7 luận điệu sai lầm về dùng tiền Trung Quốc ở biên giới: NHNN dùng chiêu mị dân để đạt mục đích?

Quyết định cho phép dùng Nhân dân tệ thanh toán trong các giao dịch bình thường ở 7 tỉnh thành biên giới của Việt Nam vừa qua đã tạo nên làn sóng phản đối từ người dân và giới trí thức. Tại sao một đất nước độc lập, tự chủ lại có thể chấp nhận đồng tiền của nước khác lưu hành trên lãnh thổ nước mình? Tại sao trong khi đồng USD bị cấm giao dịch tuyệt đối ở Việt Nam, thì người ta lại mở đường cho Nhân dân tệ vào hoành hành trên khắp lãnh thổ? Vì sao hết cho phép người Trung Quốc lái xe tự do chạy thẳng qua biên giới, nay lại đồng ý lưu hành đồng nhân dân tệ (CNY) trên lãnh thổ? Việc người Trung Quốc đốt cờ, đốt tiền Việt và công khai vứt thẳng Nhân dân tệ để thanh toán khi đến các quán xá, nhà hàng Việt Nam chưa đủ để người ta đề phòng, “quan ngại” về nguy cơ mất chủ quyền hay sao? 

Trước làn sóng phản đối dữ dội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hôm 03/09/2018 đã có văn bản “biện hộ” rằng: Thông tư 19 nhằm “khắc phục những bất cập trong thực tiễn thanh toán đã thực hiện từ nhiều năm nay” trong khi “tạo thuận lợi cho thương nhân và cư dân biên giới”.

Theo đó, “Thông tư này đảm bảo trên lãnh thổ Việt Nam chỉ cho phép thanh toán bằng tiền mặt VND, không cho phép sử dụng nhân dân tệ tiền mặt để mua bán hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam theo đúng tinh thần của pháp lệnh ngoại hối; đồng thời tăng cường kiểm soát tiền tệ qua hệ thống ngân hàng, hạn chế buôn lậu, gian lận thương mại phù hợp với chủ trương, định hướng chỉ đạo của Chính phủ,” văn bản do ông Nguyễn Ngọc Minh, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối NHNN viết.

Hay cho rằng: “Việc sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán thương mại đang là xu hướng được nhiều nước trên thế giới và khu vực sử dụng”… Để làm rõ những giải thích của ông Minh, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của Tiến sỹ Đinh Trường Hinh từ Virginia, Hoa Kỳ, phản biện lại các lập luận ủng hộ cho việc sử dụng đồng nhân dân tệ theo quy định tại Thông tư 19.

Lập luận 1: “Trên thế giới đã có rất nhiều nước dùng tiền nước ngoài để làm đồng tiền chính thức trong nước.”

Trả lời: Điều này hoàn toàn sai.

Trên thế giới hiện nay chỉ có Panama, một nước rất nhỏ ở Nam Mỹ dùng đồng đô la làm tiền tệ chính thức của mình từ năm 1904 do nhiều lý do lịch sử. Một số các hòn đảo nhỏ (như Marshall Islands, Micronesia, Palau, Turks and Caicos, British Virgin Islands), hoặc một vài nước vì lý do kinh tế hoặc vì chiến tranh như Ecuador, East Timor, El Salvador, Zimbabwe mới cho phép sử dụng ngoại tệ làm tiền trong nước.

Còn ngoài ra trên 200 nước còn lại đều dùng tiền riêng của họ. Lý do là tiền nội địa phải làm ba chức năng sau: i) phương tiện trao đổi; ii) đơn vị kế toán; và iii) dự trữ giá trị.

Tất cả các tiến tệ trên thế giới hiện này là fiat, có nghĩa là tiền quy ước mà giá trị vượt xa chi phí sản xuất, và điều kiện tiên quyết cho loại tiền này tồn tại là sự công nhận hợp pháp của luật pháp trong nước. Tiền quy ước này được bổ sung thêm bằng tiền ghi nợ mà luật pháp công nhận cho một nước. Chính vì giá trị đồng tiền vượt xa chi phí sản xuất mà khi in tiền, chính phủ của một nước được một nguồn thu nhập quan trọng gọi là seignorage.

Nước Panama và các nước kể trên là những nước duy nhất trên thế giới không có nguồn thu nhập này. Một khi đồng Nhân dân tệ được dùng tại 7 tỉnh biên giới, Việt Nam sẽ mất seignorage trên số tiền Việt Nam trước kia dùng ở đó. Một sự thất bại thảm hại trong quản lý tiền tệ và bảo đảm an ninh tiền tệ, an ninh quốc gia của các nhà quản lý. Liệu điều này, NHNN có tính đến hay chưa?

Lập luận 2: “Thông tư 19 chỉ nhằm để giúp các doanh nhân và cơ sở thương mại phát triển ở trong bảy tỉnh biên giới, không có ảnh hưởng gì đến các tỉnh khác cũng như sẽ không có ảnh hưởng gì đến tiền tệ hay chính sách tiền tệ.”

Trả lời: Điều này hoàn toàn sai.

Thông tư 19 đã chính thức đem Nhân dân tệ vào đất nước Việt Nam và trong bảy tỉnh biên giới sẽ có hai thứ tiền tệ: VND va NDT.

Thông tư 19 đã ghi rõ là các doanh nhân cũng như là cư dân ở những vùng gần biên giới có thể mua bán dùng tiền mặt hay qua hệ thống ngân hàng bằng cả hai thứ tiền. Như vậy là mặc nhiên cho NDT làm đồng tiền chính thức ở những vùng đó, và hàng hóa hay dịch vụ một khi đã được mua hay bán bằng NDT ở những vùng biên giới thì sẽ được phân phối đi trong cả nước Việt Nam, do đó không thể nào ngăn chặn được.

Hiện chỉ có thương nhân các tỉnh thành giáp biên giới có quan hệ thương mại với Trung Quốc, hay khắp các tỉnh thành Việt Nam đều làm ăn, buôn bán với bạn hàng lớn này? Khi người miền Nam, miền Trung và các tỉnh thành còn lại của miền Bắc mang hàng hóa đến khu biên giới bán cho Trung Quốc, liệu họ sẽ thanh toán bằng VND, hay sẽ bằng thứ tiền Nhân dân tệ kia? Vậy thì ai dám đảm bảo NDT sẽ chỉ lưu hành ở biên giới, không ảnh hưởng gì đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam? Phải chăng chỉ có những cán bộ ngu dốt, trót bán mình cho Tàu Cộng mới dám hùng hồn tuyên bố như thế?

Một mặt khác NHNN cũng sẽ mất độc lập trong chính sách tiền tệ bởi hai lý do:

Thứ nhất, những dự trữ của các ngân hàng VN ở bảy tỉnh này sẽ không nằm trong sự kiểm soát của NHNN, do đó NHNN không thể kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ.

Thứ hai, vận tốc nhu cầu tiền (velocity of money demand) sẽ thay đổi trong những tỉnh này và sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu cần tiền (money demand) của tiền VND mà NHNN không thể dự đoán được để kiểm soát tiền tệ.

Lập luận 3 : “Việc cho NDT được chính thức dùng ở bảy tỉnh biên giới sẽ không có ảnh hưởng gì đến hối đoái và chính sách hối đoái của NHNN Việt Nam.”

Trả lời: Điều này hoàn toàn sai.

Các công ty Trung Quốc đang hoạt động tại Việt Nam sẽ dùng tiền VND để quy đổi ra các ngoại tệ mà chính phủ Trung Quốc hoặc là không cho phép hoặc là cho phép rất hạn chế. Điều này tuỳ thuộc vào thành phần xuất cảng và nhập cảng của TQ đối với các nước đang dùng ngoại tệ đó và có thể không liên quan gì đến xuất cảng và nhập cảng của VN.

Nhưng vì các công ty TQ và các ngân hàng TQ dùng tiền VN để đổi mà hối suất của VN đối với các ngoại tệ đó cũng sẽ thay đổi. Quan trọng hơn nữa là điều này sẽ có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, vì chính sách hối đoái này đưa một tín hiệu sai lầm đến các nhà sản xuất VN, làm họ mất đi khả năng cạnh tranh theo hệ thống tín hiệu thị trường và chỉ có thể sản xuất theo lợi thế so sánh của TQ thay vì của VN.

Đây là một điều hết sức nguy hiểm về lâu về dài cho công kỹ nghệ VN.

Lập luận 4: “Hiện tại NDT đang được dùng để giao dịch cho các nước. Chính IMF đã bỏ đồng NDT vào giỏ tiền tệ của SDR.”

Trả lời: Thật không có gì sai hơn.

Đồng SDR (gồm có USD, EUR…) là một loại tiền tệ giả, được dùng như một phương tiện để thanh toán mậu dịch giữa các nước với nhau chứ SDR chưa bao giờ được sử dụng như một loại tiền tệ trong nước (có bao giờ bạn đi mua cái áo sơ mi mà trả bằng SDR chưa?)

Do đó, đồng NDT cũng chưa bao giờ được chính thức dùng như là tiền tệ cho các nước khác, và vì vậy không có nước nào trên thế giới chính thức cho đồng NDT lưu hành song song với tiền nước họ, ngoại trừ Zimbabwe bị khủng hoảng kinh tế phải dùng tám thứ tiền khác nhau, trong đó có NDT.

Ngay cả những nước nghèo đói ở châu Phi như Democratic Republic of Congo nơi mà Trung Quốc đã dùng tiền bạc mua chuộc lợi ích kinh tế, đồng NDT vẫn được coi là một ngoại tệ chứ không phải tiền trong nước như ở bảy tỉnh của Việt Nam.

Lập luận 5: “Thông tư 19 chỉ hợp thức hóa những gì đang xảy ra và tiếp tục quyết định của NHNN VN năm 2004 (689/2004/QĐ-NHNN).”

Trả lời: Điều này sai bởi hai lý do.

Thứ nhất, Thông tư 19 chính thức cho tất cả mọi người kể cả dân chúng và doanh nghiệp dùng NDT trong khi Quyết định 2004 có giới hạn vì không đề cập đến doanh nghiệp.

Thứ hai, dù là NHNN đã quyết định năm 2004 như vậy đi nữa, nếu là một quyết định sai thì không có lý do gì ta phải giữ hoài chuyện đó. Nếu mọi chuyện đã và đang xảy ra là sai thì phải sửa đổi chứ không thể để mọi chuyện tiếp tục như vậy.

Lập luận 6: “Thanh toán bằng đồng NDT sẽ giúp giảm tác động tiêu cực lên nhập siêu và Thông tư 19 sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp cho cán cân thương mại Việt – Trung.”

Trả lời: Điều này hoàn toàn sai.

Cán cân thương mại giữa hai nước sẽ không có ảnh hưởng gì nếu thanh toán bằng đồng NDT hay đồng đô la, vì trong trường hợp này đồng tiền chỉ là một đơn vị kế toán và những động cơ để đưa đến sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ không có thay đổi.

Cũng chính vì vậy mà tất cả các nước trên thế giới (kể cả TQ) đều trình bày thống kê về cán cân ngoại thương (balance of payments) của họ bằng đô la mặc dù đồng tiền họ dùng là các tiền tệ khác.

Nếu hiện tại cán cân thương mại Việt-Trung đang bị thất thiệt nặng nề thì VN phải dùng các chính sách kinh tế thích hợp để tăng năng lực cạnh tranh trong nước, kể cả dùng chính sách đổi giá hối đoái giữa hai nước. Nếu dùng tiền NDT để đạt mục đích này vì hiện tại TQ đang phá giá thì nay mai khi NDT trở nên đắt so với đô la (như những năm gần đây) thì VN sẽ bán hàng hoá cho ai?

Lập luận 7: “Có thể giữ 2 loại tiền (tiền VN và tiền TQ) cùng giao lưu cho 7 tỉnh biên giới.”

Trả lời: Theo luật Gresham, không thể nào có hai loại tiền lưu hành cùng lúc trong cùng một nước vì đồng tiền xấu sẽ làm cho đồng tiền tốt biến đi.
Cho đến nay, đồng tiền NDT đã phá giá khoảng 8% so với đô la Mỹ trong khi VND chỉ mất khoảng 2-3%.

Ta hãy lấy một ví dụ thực tế. Một doanh nhân VN muốn mua hàng hoá với một doanh nhân TQ có trị giá 100 NDT. Ông ta có thể dùng NDT hay VND để làm cuộc buôn bán. Ví dụ tài sản ông ta có một nửa là NDT và một nửa VND (100 NDT= 340,728 VND). Trong trường hợp này ông ta nên mua bằng tiền NDT hay là bằng tiền VN? Ông ta sẽ mua bằng NDT vì đồng tiền NDT đang mất giá so với VND và để lâu NDT sẽ mất giá thêm. Do đó, mọi người sẽ dùng NDT và đồng VND sẽ biến mất dần.

Lẽ dĩ nhiên bạn cũng có thể ví dụ ngược lại, đồng VN là đồng tiền xấu và như vậy NDT sẽ dần dần mất đi, nhưng như vậy thì đem NDT vào làm gì nữa?

Nguồn: BBC

Tags: , , , , , .
Loading...

TIN MỚI